Thứ sáu 25/04/2014 12:33 English English

Tóm tắt luận án tiến sĩ “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”

Thứ năm 27/09/2012 15:23

Sau đây là bản giới thiệu tóm tắt về luận án tiến sĩ “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” của Nghiên cứu sinh: Phạm Thị Thanh Tịnh. Chuyên ngành: Báo chí học. Mã số: 62 32 01 01. Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Lương Khắc Hiếu – hướng dẫn 1. TS. Nguyễn Trí Nhiệm – hướng dẫn 2. Cơ sở đào tạo: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 

Tóm tắt luận án tiến sĩ “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”

 Sau đây là bản giới thiệu tóm tắt  về luận án tiến sĩ “Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay”  của Nghiên cứu sinh: Phạm Thị Thanh Tịnh. Chuyên ngành: Báo chí học. Mã số: 62 32 01 01. Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Lương Khắc Hiếu – hướng dẫn 1. TS. Nguyễn Trí Nhiệm – hướng dẫn 2. Cơ sở đào tạo: Học viện Báo chí và Tuyên truyền

 

 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

1.1. Công chúng có nhiều dạng, nhiều đối tượng khác nhau. Tìm hiểu công chúng nói chung và từng nhóm đối tượng nói riêng để đáp ứng nhu cầu cụ thể nâng cao hiệu quả tác động của báo chí là điều cần thiết đối với báo chí hiện đại. Đây chính là cơ sở khoa học và thực tiễn để nâng cao chất lượng chương trình và các ấn phẩm báo chí, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, giám sát xã hội của báo chí.

1.2. Công chúng nông thôn là nhóm đối tượng quan trọng cần tìm hiểu về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin báo chí nói chung và phát thanh nói riêng. Những người dân sống ở nông thôn có nghe đài hay không? họ có nhu cầu tiếp nhận những thông tin gì ở phương tiện phát thanh? điều kiện nghe đài của họ như thế nào?  đài phát thanh cần đổi mới như thế nào để thu hút bạn nghe đài? Với những nhu cầu tiếp nhận của công chúng nông thôn liệu điều kiện hiện nay của nước ta có đáp ứng được không? 

1.3. Tìm hiểu về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn là một phần trong công tác nghiên cứu công chúng báo chí nói chung và công chúng phát thanh nói riêng. Thông qua sự nghiên cứu đó có thể  dần dần hình thành nhu cầu, xác lập các điều kiện mới trong việc tiếp nhận thông tin, nhằm nâng cao chất lượng chương trình phát thanh.

1.4. Xuất phát từ đặc điểm công chúng phát thanh hiện nay và từ thực tiễn công tác nghiên cứu nhóm đối tượng trên địa bàn nông thôn, luận án này góp phần làm sáng tỏ diện mạo nhóm công chúng nông thôn về đặc điểm nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin; mức độ và cách thức tiếp nhận thông tin qua sóng phát thanh, khả năng đáp ứng nhu cầu đó hiện nay. 

Điều đó cho thấy việc tìm hiểu Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của nông dân đồng bằng sông Hồng hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thính giả nông thôn và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống phát thanh ở nước ta.

2.  Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1. Tổng quan nghiên cứu công chúng truyền thông trên thế giới

   Có nhiều tác giả, công trình nghiên cứu về tác động của truyền thông đại chúng, liên quan trực tiếp đến nghiên cứu công chúng như Avin Toffer (1996), Philip Breton và Serge Proulx (1996), Prokhorop (2001), Schuson M. (2003), Claudia Mast (2003)... Các tác giả đều coi nghiên cứu công chúng là một bộ phận, một khâu không thể thiếu trong khi nghiên cứu truyền thông đại chúng và các công trình đều đề cao vai trò tích cực, chủ động của công chúng – người tiếp nhận. Nghiên cứu truyền thông đã trở thành một ngành được nhiều người quan tâm trên thế giới.

2.2. Một số hướng tiếp cận chính ở Việt Nam 

-Bình diện báo chí học: có một số công trình nghiên cứu về công chúng của các tác giả Tạ Ngọc Tấn (2001), Nguyễn Văn Dững (2002, 2006), Trần Bá Dung (2008), Đỗ Chí Nghĩa (2009)... Các công trình nghiên cứu của tổ chức như Đài Tiếng nói Việt Nam(2003), Đài Truyền hình Việt Nam (2001)...

- Bình diện xã hội học: Hướng nghiên cứu lý thuyết về xã hội học công chúng và hướng nghiên cứu thực nghiệm. Có thể kể đến một số tác giả: Mai Quỳnh Nam (1996, 2001), Trần Hữu Quang (2006)... Những nghiên cứu trường hợp, khảo cứu, thực nghiệm như: Mai Văn Hai (1992), Trần Hữu Quang (1998), Trương Xuân Trường (2001), Khoa Xã hội học – Học viện Báo chí và Tuyên Truyền (2004,2009), Viện Khoa học xã hội Việt Nam...

Nhỡn chung cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu kể trờn, giới nghiờn cứu trờn thế giới và ở Việt Nam đều đề cao vai trũ tỏc động tích cực trở lại của công chúng đối với truyền thông; coi đây là một bộ phận, một khâu không thể thiếu trong khi nghiên cứu truyền thông đại chúng... Đặt ra vấn đề, tỡm hiểu nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn nhằm thoả món nhu cầu thụng tin cho họ và đưa ra những kiến giải đầy đủ thuyết phục để giúp họ ngày càng có nhiều thông tin sát với nhu cầu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Điều này thúc đẩy việc cần có những nghiên cứu đầy đủ và chuyên biệt trên nền tảng thực tiễn cụ thể, với thời điểm và địa bàn xác định. Công trình này sẽ góp một phần nhỏ cho việc thực hiện điều đó.

   3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn, đề xuất giải pháp chủ yếu tạo lập các điều kiện để phát triển và đáp ứng nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay.

 Nhiệm vụ: Hệ thống lý luận về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn. Khảo sát thực tế và mô tả, phân tích thực trạng nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng. Phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn, đưa ra giải pháp chủ yếu tạo lập các điều kiện để phát triển và đáp ứng nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn ĐBSH Hồng hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu là Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn  đồng bằng sông Hồng hiện nay. Qua điều tra công chúng một số tỉnh được chia theo điều kiện địa lý  là: Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nam vào năm 2010 và 2011.

Phạm vi nghiên cứu đề tài là một khâu, một mắt xích trong mô hình truyền thông: nghiên cứu khâu người nhận (receiver), nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin của người nhận, nhóm công chúng nông thôn khi tiếp nhận thông tin trên phương tiện phát thanh.

5. Giả thuyết nghiên cứu

Mâu thuẫn về tính tính bức thiết, biến đổi nhanh của nhu cầu và tính thiếu cập nhật,  định kỳ của chương trỡnh phỏt thanh.

Những yêu cầu về nội dung, chất lượng chương trình phát thanh của nông dân chưa được các đài phát thanh đáp ứng.

Không thoả đáng về sự đũi hỏi cao điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận thông tin và sự đầu tư thiếu đầy đủ về phương tiện truyền thông ở nông thôn.

Mâu thuẫn giữa điều kiện sống và khả năng tiếp nhận phương tiện truyền thông của cụng chỳng cũn hạn chế với sự phỏt triển nhanh, mạnh cỏc phương tiện  truyền thông đại chúng

6. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án này được thực hiện dựa trên việc vận dụng kết hợp những cơ sở lý thuyết chớnh là: 

Tiếp cận từ  lý thuyết truyền thụng: Lịch sử nghiên cứu truyền thông từ đầu thế kỷ XX đến nay, dù theo mô hỡnh nào cũng đều đề cập đến khâu người nhận, xem người nhận là một khâu, một mắt xích trong quá trỡnh truyền thụng.

Người nhận có vai trũ tớch cực, chủ động tham gia vào quỏ trỡnh truyền thụng trong việc xõy dựng ý nghĩa cho thụng điệp, tác động trở lại của chủ thể truyền thông, đối thoại, cùng đi tỡm chõn lý, để có thể đẩy nhanh quá trỡnh truyền thụng hoặc tạo ra một hiệu quả mới của kờnh truyền thụng. Công chúng nông thôn là một trong các nhóm công chúng báo chí, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công hoặc thất bại của một sản phẩm báo chí.

Tiếp cận từ lý thuyết xã hội học báo chí. Luận ỏn tìm hiểu cách tiếp cận xã hội học đối với quá trình truyền thông, xã hội học đối với công chúng báo chí và nội dung báo chí cũng như các tác động xã hội của báo chí. Tiếp cận những quan điểm và phương pháp phân tích xã hội học về công chúng và nội dung báo chí.

Tiếp cận từ lý thuyết tâm lý học báo chí. Với cỏch tiếp cận của tõm lý học, việc nghiờn cứu tõm lý và cỏc quỏ trỡnh tõm lý, khụng chỉ xảy ra ở khõu người nhận hay truyền tin mà ở tất cả các khâu của quá trỡnh truyền thụng. Trong phạm vi nghiờn cứu của luận ỏn, chỳng tụi chỉ giới hạn khảo sỏt khõu quan trọng nhất: tõm lý người tiếp nhận – cụ thể là công chúng nông thôn, thông qua dạng, hỡnh thức, cỏch thức, điều kiện mà họ tiếp nhận thông tin phát thanh. Thông qua đó, phần nào gợi lên tâm lý sỏng tạo của chủ thể truyền thụng – nhà bỏo phỏt thanh, làm thế nào để có được nhiều công chúng tiếp nhận.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiờn cứu tài liệu; Điều tra xó hội học; Phương pháp quan sát...

7. Đóng góp mới của luận án

- Là luận án đầu tiên khảo sát và nghiên cứu có tính hệ thống cả lý luận và thực tiễn về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin của công chúng ở nông thôn. Với đối tượng khảo sát là công chúng nông thôn ĐBSH, tập trung vào loại hỡnh bỏo phỏt thanh, những tư liệu được lựa chọn, tập hợp, đưa ra nghiên cứu là hoàn toàn mới.

- Lần đầu tiên, nhóm công chúng báo chí ở nông thôn được đề cao, nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của họ trong giai đoạn hiện nay được khảo sát và nghiên cứu một cách có hệ thống và chi tiết. Luận án làm sáng tỏ vai trũ của cụng chỳng nụng thụn đối với báo chí nói chung và báo phát thanh nói riêng trong công cuộc đổi mới hiện nay nhằm tích cực hoá hoạt động thực tiễn của báo phát thanh đối với địa bàn nông thôn.  

8. Ý nghĩa của luận án

Ý nghĩa khoa học: Luận án xác định vai trò công chúng nông thôn khi tiếp nhận thông tin phát thanh; là đề tài bổ sung cho các nguồn số liệu cũn thiếu trước đây; là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy báo chí trong nhà trường; làm tài liệu tham khảo cho sinh viên báo chí; gợi mở hướng nghiên cứu để tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng báo chí phục vụ cho công chúng.

Ý nghĩa thực tiễn: cung cấp cho các cơ quan phát thanh nước ta những cơ sở khoa học đáng tin cậy để nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu công chúng, từ đó điều chỉnh chất lượng các chương trình. Từng bước nâng cao hiệu quả tác động của báo phát thanh cho công chúng nông thôn, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của họ.

9. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận án chia làm 4 chương, 9 tiết. 

Chương 1

CƠ SỞ Lí LUẬN VỂ NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN

TIẾP NHẬN THễNG TIN PHÁT THANH

CỦA CễNG CHÚNG NễNG THễN

1.1.  Nhu cầu và nhu cầu tiếp nhận thụng tin phỏt thanh của công chúng nông thôn 

1.1.1. Nhu cầu 

1.1.1.1. Cỏc quan niệm về nhu cầu: Luận án đề cập đến quan niệm nhu cầu của các nhà nghiên cứu như Mác-Lênin, A.V. Macsgulixo, Maslow, Andecphere...Một số quan niệm trong các từ điểm của Liên Xô, Việt Nam...

Trong luận án này, khái niệm nhu cầu được xem xét như là đối tượng nghiên cứu liên ngành của các lĩnh vực bỏo chớ học, xó hội học, tõm lý học. Khỏi niệm nhu cầu tiếp nhận sử dụng trong luận ỏn được hiểu thuộc loại nhu cầu báo chí, nhu cầu xó hội, nhu cầu tõm lý. Luận ỏn tập trung vào cỏc bỡnh diện nhu cầu và mục đích của nhu cầu, sử dụng trong quá trỡnh nghiờn cứu. Cỏc bỡnh diện nhu cầu gồm: nhu cầu đó được đáp ứng, nhu cầu chưa được đáp ứng, nhu cầu tiếp nhận để phát thông tin.

1.1.1.2.        Điều kiện xuất hiện nhu cầu của con người

Làm nảy sinh nhu cầu con người trong xó hội gồm cú những điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan. Điều kiện khỏch quan là những cái tác động từ bên ngoài như môi trường sống, thể chế chớnh trị, xó hội, con người xung quanh... Điều kiện chủ quan xuất phỏt từ bản thân con người như trỡnh độ học vấn, thu nhập, mức sống, thời gian, cỏc yếu tố tõm lý cỏ nhõn và xó hội...Tất cả những điều kiện này cú tớnh quyết định trong việc hỡnh thành nhu cầu con người.

1.1.2.           Nhu cầu tiếp nhận thụng tin phỏt thanh của cụng chỳng nụng thụn

1.1.2.1.  Bỏo phỏt thanh và thụng tin phỏt thanh

   Bỏo phỏt thanh (Theo quan điểm truyền thống): là loại hỡnh bỏo chớ sử dụng kỹ thuật súng điện từ và hệ thống truyền thanh để truyền đến đối tượng ngôn ngữ âm thanh trực tiếp tác động vào thính giác.

Phát thanh hiện đại đang có sự phát triển đa dạng và phong phú như: phát thanh có hỡnh, phỏt thanh trờn mạng Internet, phỏt thanh nhỡn trờn điện thoại di động. Như vậy, ngoài phát thanh truyền thống nghe thông tin, công chúng hiện nay có thể nghe, xem phát thanh trên truyền hỡnh, nghe phỏt thanh trờn mạng Internet, nghe, đọc tin tức trên điện thoại di động với  cách xây dựng nội dung phù hợp với phương tiện chuyển tải. Một chương trỡnh phỏt thanh hiện đại cần phải có một nội dung mới, sự kiện nóng hổi, kết hợp hài hũa giữa thụng tin và yếu tố giải trớ, đồng thời có định hướng dư luận và định hướng thẩm mỹ.

Phát thanh hiện đại là loại hỡnh bỏo chớ sử dụng cỏc phương tiện truyền thông như radio, truyền hỡnh, mạng Internet, điện thoại di động để chuyển tải đến đối tượng ngôn ngữ âm thanh, hỡnh ảnh, chữ viết trực tiếp tỏc động vào mọi giác quan.

   Thụng tin phỏt thanh. Là những tin tức, sự kiện, thông báo... về mọi mặt trong đời sống xó hội ở phạm vi trong nước và quốc tế được truyền đạt trên phương tiện truyền thông radio.

1.1.2.2.Cụng chỳng nụng thụn và cụng chỳng phỏt thanh ở nụng thụn

  Cụng chỳng nụng thụn Việt Nam là những người dân sống trên những vùng đất khu vực nông thôn và sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp.

Cụng chỳng phỏt thanh ở nụng thụn, cũn gọi là thớnh giả, hay người nghe đài, bạn nghe đài ở nông thôn. Khái niệm công chúng báo chí nói chung có thể được hiểu là những người tiếp nhận sản phẩm báo chí tác động hoặc hướng vào để tác động.

1.1.2.3. Nhu cầu thụng tin phỏt thanh của công chúng nông thôn

 Căn cứ vào tiêu chí nghề nghiệp, công chúng nông thôn có nhu cầu đón nghe một số chương trỡnh phỏt thanh: nụng nghiệp nụng thụn, một trường và phát triển, đầu tư tài chính, khoa học công nghệ, vỡ an ninh tổ quốc, quõn đội nhân dân...

Căn cứ vào sở thích, công chúng nông thôn có nhu cầu nghe một số chương trỡnh phỏt thanh như: đọc truyện đêm khuya, ca nhạc theo yêu cầu, quốc hội với cử tri, theo dũng thời sự, sức khỏe và đời sống, bạn hóy núi với chỳng tụi, gúc nhỡn thể thao, văn hóa giải trí...

Căn cứ vào tiêu chí độ tuổi, giới tính, công chúng nông thôn có nhu cầu tiếp nhận các dạng chương trỡnh như: chương trỡnh phỏt thanh dành cho thiếu nhi, chương trỡnh phỏt thanh thanh niờn, chương trỡnh phỏt thanh phụ nữ, cõu lạc bộ người cao tuổi, nhịp sống trẻ...

1.2.  Điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn

1.2.1.  Nhóm điều kiện khỏch quan

1.2.1.1.  Hệ thống truyền thông đại chúng và truyền thông phát thanh

Hệ thống truyền thông đại chúng ở nước ta phát triển đa dạng, đầy đủ các loại hỡnh và phỏt triển khụng ngừng.

   Truyền thụng phỏt thanh là một hỡnh thức truyền thụng đặc biệt vỡ nú cú phương thức và con đường tác động riêng, trong đó lời núi là phương tiện truyền tải ý nghĩa và tỡnh cảm, gắn liền với õm nhạc và tiếng động minh hoạ.

1.2.1.2.       Các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xó hội trong nước và quốc tế

Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xó hội là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự vận động của báo chí. Sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xó hội của mỗi nước tự nó đặt ra nhu cầu, đũi hỏi về thụng tin, giao tiếp giữa cỏc thành viờn trong xó hội.

1.2.2.       Nhóm điều kiện chủ quan: Nghề nghiệp, mức sống, học vấn, độ tuổi, giới tính...

Các nhân tố nghề nghiệp, mức sống, học vấn, độ tuổi, giới tính... đều ảnh hưởng tới cách thức, mức độ và mục đích tiếp nhận thông tin phát thanh của người dân nông thôn. Trong đó nghề nghiệp, học vấn là hai nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến cách thức ứng xử của công chúng nông thôn đối với báo phát thanh. Muốn thay đổi mô thức tiếp nhận (thói quen, mức độ, mục đích, cách thức tiếp nhận) của công chúng đối với thông tin phát thanh, cần tác động trước hết và quyết định nhất tới hai nhân tố kể trên. Đây là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận và ý nghĩa thực tiễn một cách sâu sắc.

Chương 2

NHU CẦU TIẾP NHẬN THễNG TIN PHÁT THANH CỦA CễNG CHÚNG NễNG THễN ĐỔNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

2.1. Những đặc điểm tự nhiên và xó hội ảnh hưởng đến nhu cầu thông tin phát thanh của  công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay   

2.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiờn

Vùng ĐBSH nằm ở miền Bắc Việt Nam, phõn theo hành chớnh gồm cú 11 tỉnh, thành phố, gồm: Vĩnh Phỳc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phũng, Quảng Ninh, Thỏi Bỡnh, Nam Định, Ninh Bỡnh.

 Dân số, lao động. ĐBSH là vùng tập trung dân cư đông nhất cả nước. Thông qua công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, bảo vệ sức khoẻ, trỡnh độ học vấn của lực lượng lao động của vùng ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, lực lượng lao động có trỡnh độ học vấn không đều. Số lao động không biết chữ, trỡnh độ thấp tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn.

2.1.2. Đặc điểm kinh tế, văn hoá - xó hội ảnh hưởng đến nhu cầu thông tin phát thanh của  công chúng nông thôn  

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xó hội của vựng ĐBSH so với các vùng khác trong cả nước được đánh giá vào loại khá nhất, nhưng so với yêu cầu cung cấp thông tin đến với mọi người dân sống ở khu vực nông thôn, nhỡn chung vẫn ở trong tỡnh trạng thấp.

Điều kiện kinh tế, xó hội của khu vực khụng thật đồng đều. Cũn tồn tại khoảng cỏch khỏ xa giữa những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phũng so với cỏc địa phương cũn lại. Mức sống giữa nụng thụn và thành thị đang có sự chênh lệch lớn. Sự liên kết về mặt thông tin giữa các tỉnh với nhau cũn lỏng lẻo, ớt bổ sung hỗ trợ nhau, chủ yếu hoạt động cát cứ theo từng địa bàn, vỡ vậy khụng tạo được một thị trường thông tin lớn.

2.1.3. Hệ thống phát thanh vùng đồng bằng sông Hồng

Hệ thống phát thanh vùng ĐBSH, có Đài Tiếng nói Việt Nam, bộ phận phát thanh của 11 đài phát thanh truyền hỡnh tỉnh, các trạm phát lại chương trỡnh phỏt thanh và cỏc đài phát sóng phát thanh FM của huyện thị, truyền thanh không dây của cấp xó, phường. Một số công nghệ truyền dẫn, phát sóng mới như phát thanh số mặt đất cũng đó được áp dụng ở nước ta.. Bên cạnh đó cũn cú hệ phát thanh của các đài nước ngoài phát bằng tiếng Việt như đài phát thanh BBC (đài phát thanh của Anh), đài RFI (đài phát thanh của Pháp), đài Tiếng nói Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)... cũng phủ súng trong vựng này.

2.2. Thực trạng nhu cầu thụng tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay 

2.2.1. Nhu cầu thông tin phát thanh chủ yếu của công chúng  nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi đã thực hiện điều tra xã hội học tìm hiểu về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin của cụng chỳng nụng thụn, trên địa bàn 4 tỉnh khu vực ĐBSH. Tổng số phiếu điều tra là 520 phiếu, số phiếu thu về là 498 phiếu. Kết quả bước đầu đạt được như sau:

   2.2.1.1. Nhu cầu về nội dung

Đây là khu vực dân trí khá cao so với vùng miền nông thôn khác, người dân luôn quan tâm đến tỡnh hỡnh chớnh trị. Vỡ vậy, nghe đài để biết đường lối chủ trương và chính sách, pháp luật của nhà nước là mối quan tâm cao nhất của họ với tỷ lệ là 46.2%. Nghe đài phát thanh để với mục đích biết thông tin thời sự chính trị trong và ngoài nước dành được mối quan tâm thứ hai với 44.7%. Sau đó là sự quan tâm đến chỉ dẫn phương pháp, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế chiếm 41.5%. Cuối cùng là nhu cầu giải trí chiếm 34.3%. Cũng theo cuộc điều tra, công chúng nông thôn ĐBSH nghe đài với một số mục đích khác như:  Để học tập bổ túc kiến thức nghề nghiệp; cú nhiều thụng tin bổ ích; Biết các hoạt động của địa phương;Tìm hiểu thông tin cần quan tâm...

2.2.1.2.   Nhu cầu về hỡnh thức

Nhu cầu về hỡnh thức thể hiện chương trỡnh : trực tiếp, tương tác, đọc văn bản.

Nhu cầu về dạng chương trỡnh: Qua điều tra, hỡnh thức chương trỡnh phỏt thanh dành cho cụng chỳng nụng thụn ĐBSH mà họ muốn nghe đó là: Chương trỡnh dành riờng cho công chúng nông thôn; chương trỡnh chuyờn biệt

2.2.2. Đánh giá nhu cầu tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay

Khả năng tiếp nhận: Khả năng tiếp cận với thông tin của công chúng nông thôn ĐBSH phụ thuộc vào tỡnh hỡnh trang bị phương tiện phát thanh trong gia đỡnh. 56% người trả lời có radio trong nhà. Tuy nhiên số lượng tivi có trong gia đỡnh nụng thụn ĐBSH chiếm tỷ lệ không nhỏ 79%. Như vậy họ sẽ tiếp nhận thông tin qua truyền hỡnh với tỷ lệ cao hơn phát thanh tương ứng với số phương tiện có trang bị trong nhà.  

 Công chúng nông thôn là lớp người cần cù, chịu khó, cần mẫn trong công việc, nhạy cảm trong cuộc sống, tư duy thực tế. Nhóm công chúng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giáo dục và rèn luyện để trở thành những lao động sản xuất giỏi, những người có ích để  phục vụ đất nước. Họ có nhu cầu và định hướng giá trị phát triển phong phú, đa dạng, một lực lượng tiêu biểu cho những tiến bộ xó hội và đang đũi hỏi vươn lên khẳng định chỗ đứng của mỡnh trong xó hội hiện đại. Chính vỡ vậy,  cụng chỳng nụng thụn là những người có khả năng tiếp nhận và xử lý thụng tin.

 Mức độ tiếp nhận thông tin: 30.8 % người được hỏi thường nghe đài hằng ngày, 28.8 % nghe vài lần mỗi tuần, 16.5% nghe vài lần mỗi tháng, 20.9 % hầu như không nghe, 3.0 % chưa nghe bao giờ. Số người được hỏi trả lời nghe đài hằng ngày chiếm tỷ lệ cao nhất là 30,8%. Như vậy, người dân ĐBSH vẫn ưu tiên sử dụng loại hỡnh phỏt thanh trong việc tiếp nhận thụng tin, giải trí. Tuy nhiên, người dân dành thời gian nghe đài hằng ngày chưa cao, cụ thể: 57.0 %  người nghe đài từ trên 1giờ đến 2 giờ/ngày; 20.6 %  người nghe đài từ trên 2 giờ đến 3 giờ/ngày; 22.4 % người nghe đài từ trên 3 giờ/ngày.

Trong các phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay, công chúng nông thôn ĐBSH tiếp nhận thông tin chủ yếu qua ti vi. Lý do chưa nghe đài là do nội dung không hấp dẫn bằng tivi chiếm  tỷ lệ cao nhất là 47.7 %. 

Sự lựa chọn và phương thức tiếp nhận: Người dân chủ yếu lựa chọn nghe đài lúc ở nhà, điều này cũng logích với việc họ nghe thông tin có tập trung. Vừa nghe vừa làm việc như khi ở ngoài đồng chiếm tỷ lệ thấp, thông thường nghe đài kết hợp với công việc khác mức độ tập trung thấp hơn. Tuy nhiên, do công việc đồng áng họ có thể tự chủ động, và phát thanh có thể mang đi mọi lúc, mọi nơi, vỡ vậy người dân có thể nghe đài bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Do đó, việc tiếp nhận thông tin phát thanh có thể giúp họ tiếp nhận thông tin có tính cập nhật thường xuyên và liên tục.

So với đài địa phương, Đài Tiếng nói Việt Nam đó chứng tỏ là một kờnh truyền thụng tin cậy, thu hỳt được khá lớn lượng thính giả là người dân ĐBSH. Tỷ lệ công chúng nông thôn lựa chọn đài địa phương để nghe  thấp, chất lượng các chương trỡnh phỏt thanh địa phương ở các tỉnh trong khu vực cần tăng cường cải tiến về nội dung và hỡnh thức nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân nông thôn.          

Sử dụng thời gian để tiếp nhận: Thời điểm thường nghe đài của người dân nông thôn trước khi đi ngủ buổi tối chiếm tỉ lệ là  45.5 %;  18.8 % vừa làm việc vừa nghe đài; 19.7 % lúc có thời gian tập trung để nghe đài; 7.2% lúc thực hiện hoạt động cá nhân;  5.7% lúc mất điện; 3.11 % lúc đợi chờ tàu xe tham gia giao thông. Thời điểm muốn nghe đài của người dân nông thôn cũng tương đương với thời điểm thường nghe là 49.8% trước khi đi ngủ buổi tối;  19.1% muốn vừa làm việc vừa nghe đài; 21.2 %  muốn nghe lúc có thời gian tập trung; 3.2% muốn nghe lúc thực hiện hoạt động cá nhân; 3.4% muốn nghe lúc mất điện; 1.9% muốn nghe lúc đợi chờ tàu xe tham gia giao thụng.

 Về thời gian trong ngày, tỷ lệ người dân nghe đài buổi tối lúc có thời gian rỗi chiếm tỷ lệ cao nhất 58.5%. Thời điểm thứ hai được lựa chọn nghe đài là vào buổi sáng chiếm tỷ lệ 25.1%. Buổi trưa chiếm tỷ lệ thấp nhất 16.5%. Lựa chọn thời điểm này nghe đài tại nhà rất phù hợp với đặc điểm của người dân nông thôn ĐBSH, họ ít có những phương thức giải trí khác bên ngoài vào buổi tối.

 2.3. Xu hướng mới trong nhu cầu tiếp nhận thông tin phát thanh của  công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng

2.3.1.  Công chúng nông thôn thường chủ động lựa chọn thông tin và có nhu cầu tham gia vào chương trỡnh

2.3.2.  Công chúng nông thôn có nhu cầu muốn nghe từng kênh dành cho từng nhóm đối tượng riêng biệt

2.3.3. Xu hướng nghe chương trỡnh giải trớ trờn súng phỏt thanh

Chương 3

ĐIỀU KIỆN TIẾP NHẬN THÔNG TIN PHÁT THANH CỦA CÔNG CHÚNG NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

3.1.  Thực trạng điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng 

3.1.1. Điều kiện khách quan về môi trường xó hội

3.1.1.1. Toàn cầu hoỏ thụng tin: các đài phát thanh đó đưa đến cho công chúng nông thôn ĐBSH lượng thông tin khá nhiều và dày đặc, bao quát mọi vấn đề của tỡnh hỡnh phỏt triển kinh tế - xó hội và đời sống nhân dân trên khắp mọi vùng miền của cả nước. Quá trỡnh toàn cầu hoỏ đang tạo ra sức sáng tạo mới trên mọi lĩnh vực, nhưng đồng thời cũng đặt cho công chúng nông thôn những khó khăn, thách thức, những mặt trái... mà vai trũ của  phỏt thanh là phải cú thụng tin nhanh nhạy, chớnh xỏc, kịp thời, liên kết mọi tầng lớp, cá nhân, tổ chức, hướng tới giải quyết những vấn đề đó.

   3.1.1.2. Sự đầu tư về cơ sở vật chất

Tỷ lệ lớn người trả lời đánh giá sự đầu tư cơ sở vật chất để tiếp nhận phát thanh tại địa phương là vừa phải và tốt. Những điều kiện cần để họ tiếp nhận thông tin phát thanh không phải ở cơ sở vật chất như điện hay radio mà họ cần thời gian rỗi và chương trỡnh hấp dẫn hơn.

   3.1.1.3. Cơ chế thị trường và sự cạnh tranh của các loại hỡnh bỏo chớ

 Trong cơ chế thị trường, các loại hỡnh bỏo chí đang cạnh tranh để thu hút công chúng. Báo chí phải không ngừng tự đổi mới vừa đảm bảo định hướng vừa phải thích ứng với cơ chế thị trường mà không rơi vào xu hướng “thương mại hóa”, ngày càng nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin. 

Hiện nay, trờn thế giới, hệ thống các phương tiện truyền thông phát triển mạnh mẽ. Bằng việc truy cập Internet trong cùng một thời điểm có thể kết nối với nhiều nơi trên thế giới để trũ chuyện. Nhiều gia đỡnh đó tiếp nhận chương trỡnh phỏt thanh, truyền hỡnh của cỏc quốc gia trờn thế giới nhờ thiết bị thu phỏt tớn hiệu qua vệ tinh. Vỡ vậy, mỗi người, mỗi gia đỡnh cú thể tiếp nhận thụng tin nhanh chúng và kịp thời bằng nhiều cỏch, qua nhiều phương tiện khác nhau. Do đó diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các loại hỡnh bỏo chớ trong quỏ trỡnh tỏc động thông tin đến công chúng.

3.1.2. Điều kiện về hệ thống phát thanh

3.1.2.1.Nhiều đài phát thanh với nhiều kênh sóng để tiếp nhận và lựa chọn thông tin

Với mạng lưới thông tin phong phú và đa dạng, nhiều nguồn tin có sẵn qua mạng Internet, giỳp cho loại hỡnh bỏo chớ phỏt thanh cú điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận, khai thác và chuyển tải thông tin đến công chúng nông thôn. Trong quá trỡnh tỏc nghiệp ở vựng nụng thụn cỏc sự kiện mới, đề tài mới luôn xuất hiện, càng giúp nhà báo phát thanh mở rộng phạm vi hoạt động, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công chúng.

3.1.2.2. Chương trỡnh phỏt thanh đa dạng và phong phú

Cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta đó làm thay đổi tâm lý và nhu cầu người nghe đài. Các chương trỡnh phỏt thanh hiện đại phải đa dạng, phong phú, mang đậm hơi thở cuộc sống, gần gũi với mọi đối tượng nghe đài, được truyền dẫn, phát sóng trên nền tảng công nghệ phát thanh hiện đại, đảm bảo chất lượng âm thanh với độ nét cao. Đây cũng là một yêu cầu đối với phát thanh trên con đường hiện đại hoá chính mỡnh bằng cỏch chiếm lĩnh cụng nghệ tiờn tiến.

   3.1.3. Điều kiện của cá nhân để tiếp nhận thông tin

Nghề nghiệp: So sánh mức thường xuyên và thỉnh thoảng tiếp cận với phát thanh cho thấy tỷ lệ thường xuyên cao nhất rơi vào nhóm có nghề nghiệp ổn định như công chức nhà nước. Học sinh, sinh viên là nhóm tri thức cao và họ có điều kiện để tiếp cận nhiều phương tiện khác, chính vỡ vậy thỉnh thoảng nghe đạt tỷ lệ cao nhất. 

   Bờn cạnh yếu tố nghề nghiệp thỡ mức sống cũng ảnh hưởng đến mức độ thường xuyên nghe đài, hay nói cách khác, người có vị thế kinh tế khác nhau cũng không giống nhau về mức độ tiếp cận với phát thanh.

    Mức sống: Các hộ gia đỡnh khỏ giả, cú thể họ cú nhiều phương tiện khác để tiếp cận thông tin như truyền hỡnh, báo in, báo mạng và nhiều điều kiện vui chơi giải trí khác nên họ không thường xuyên nghe đài. Tuy nhiên, do nhu cầu thông tin vào các thời điểm khác nhau nên họ tỡm đến nghe đài phỏt thanh với mức độ thỉnh thoảng chiếm tỷ lệ cao.

   Trong mối tương quan giữa ba mức sống, thỡ người có mức sống trung bỡnh cú tỷ lệ “ thỉnh thoảng nghe” ở mức cao nhất. Do họ khụng đủ điều kiện như những người khá giả có thể tiếp cận các loại hỡnh khỏc tuỳ thớch và họ cũng khụng giống người nghèo chỉ có một ít loại hỡnh để tiếp cận.

   Đối với những người nghèo, không có điều kiện để tiếp cận với các loại hỡnh truyền thụng, cũng như điều kiện vui chơi. Vỡ vậy, nếu cú nhu cầu thụng tin, giải trớ họ thường tỡm đến với loại hỡnh rẻ tiền, cú sẵn như báo phát thanh. Trong số người được hỏi, tỷ lệ thường xuyên nghe đài ở mức cao nhất.

Học vấn: trong tương quan giữa ba nhóm trỡnh độ học vấn là trung học cơ sở trở xuống, trung học phổ thông và trung cấp trở lên, những người trung cấp trở lên có tỷ lệ thường xuyên nghe đài và thỉnh thoảng nghe cao nhất. Hiếm khi và không nghe đài ở mức độ thấp nhất.

   Nhóm trung học phổ thông có tỷ lệ thường xuyên nghe đài thấp nhất. Những người này có trỡnh độ ở mức trung bỡnh, họ đó cú một lượng kiến thức nền tảng nhất định để tiếp nhận thông tin. Nên họ có điều kiện về mặt nhận thức để tiếp cận với các loại hỡnh truyền thụng mới phong phỳ và hấp dẫn như tivi, báo mạng, phim ảnh.

Người có trỡnh độ học vấn thấp từ trung học cơ sở trở xuống, thậm chí những người không biết chữ họ không có nhu cầu tiếp cận thụng tin dự là ở bất cứ PTTT nào. Nếu tỡm đến các PTTT chủ yếu nhằm mục đích giải trí.

Độ tuổi: những người cao tuổi trên 46 tuổi thường xuyên nghe đài nhiều hơn công chúng trẻ tuổi thấp hơn họ. Những người này thường có xu hướng tiếp nhận thông tin đơn lẻ, mang tớnh cỏ nhõn. Thớch sự yờn tĩnh, trầm lắng vỡ vậy bỏo phỏt thanh rất phự hợp với họ. Nhúm tuổi trung niờn từ 36 đến 45 tuổi cũng ít khi nghe đài, tỷ lệ hiếm khi, không nghe đài cao nhất so với các độ tuổi khác. Đây là tuổi lao động chính trong các gia đỡnh, thực hiện và duy trỡ cỏc mối quan hệ xó hội nờn họ ớt cú thời gian rỗi để tiếp cận với các loại hỡnh PTTT trong đó có phỏt thanh. Người có độ tuổi từ 25 đến 35 hay người càng trẻ (dưới 24 tuổi) tỷ lệ thường xuyên nghe đài càng thấp có thể do họ nhiều mối quan tâm như học tập, giao lưu, đến các địa điểm vui chơi. Do tuổi trẻ, thích sôi nổi, giao tiếp nên họ thường tiếp cận với nhiều phương tiện khác  như  tivi, phim ảnh... để giải trí hơn là phỏt thanh.

Giới tớnh: nam giới có điều kiện tiếp nhận thông tin qua các PTTT nói chung và phát thanh nói riêng. Qua điều tra, tỷ lệ thường xuyên nghe đài phát thanh của nam giới cao hơn nhiều so với nữ.

3.2. Điều kiện nhằm thoả món nhu cầu tiếp nhận thụng tin phỏt thanh của cụng chỳng nụng thụn vựng đồng bằng sụng Hồng hiện nay 

3.2.1. Điều kiện thuận lợi cho việc thoả món nhu cầu thụng tin phỏt thanh của công chúng nông thôn  

   Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước; Điều kiện cơ sở vật chất; Điều kiện của đài phát thanh và công chúng nông thôn trong khu vực

3.2.2. Điều kiện không thuận lợi cho việc thoả món nhu cầu thụng tin phỏt thanh của công chúng nông thôn

Điều kiện về kinh tế - xó hội ; Sự cạnh tranh của cỏc loại hỡnh bỏo chớ; Điều kiện chung về hệ thống phỏt thanh nước ta ; Đối với các đài phỏt thanh địa phương; Đặc điểm của dân cư nông thôn.

Chương 4

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TẠO LẬP CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN VÀ THOẢ MÃN NHU CẦU THễNG TIN  PHÁT THANH CỦA CễNG CHÚNG

NễNG THễN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

4.1. Những vấn đề đặt ra về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay

4.1.1. Mâu thuẫn giữa sự đũi hỏi cao về điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận thông tin với sự đầu tư thiếu đầy đủ về phương tiện truyền thông ở nông thôn

Xu thế tích hợp nhiều công nghệ trên cùng một hệ thống đang được khai thác tối đa, cùng với dịch vụ đa phụ trợ (chẳng hạn kết hợp phát thanh trên Internet, phát thanh trên điện thoại, phát thanh trên truyền hỡnh), ngày càng thoả món nhu cầu khỏch hàng và cũng ngày càng kích thích và tạo ra nhu cầu dịch vụ trên cơ sở thiết bị, công nghệ đa năng, đa dụng.

Tuy nhiên, những năm vừa qua, do việc quản lý tổ chức hệ thống của ngành phỏt thanh nước ta cũn thiếu nhiều sự chỉ đạo thống nhất, tổ chức ngành bị phân  tán, nhiều đầu mối, một số địa phương chưa quan tâm đầy đủ nên hệ thống phát thanh phát triển không cân đối, trang thiết bị thiếu đồng bộ, lạc hậu, không có sự nhất quán từ Trung ương đến địa phương, cơ sở vật chất nhiều vùng bị xuống cấp nghiêm trọng. Hiện vẫn chưa có được những cơ chế, chính sách thỏa đáng, tạo cơ sở cho các đài cơ sở hoạt động và phát triển.

4.1.2. Mâu thuẫn giữa sự hạn chế về điều kiện sống và khả năng tiếp cận phương tiện truyền thông của công chúng nông thôn với sự phát triển nhanh, mạnh các phương tiện  truyền thông đại chúng

Đối với quốc gia đang phát triển như nước ta, nông dân cả nước nói chung và nông dân ĐBSH nói riêng điều kiện sống vẫn ở mức thấp. Chính vỡ vậy sự trang bị phương tiện truyền thông ở các gia đỡnh cựng như nơi công cộng cũn nhiều hạn chế.

Trong thời đại toàn cầu hoá thông tin, phương tiện truyền thông đại chúng phát triển nhanh, cạnh tranh khốc liệt và mạnh mẽ, nhưng người dân nông thôn vẫn chưa có điều kiện và khả năng tiếp cận thông tin một cách thuận lợi.

4.1.3. Mõu thuẫn giữa nhu cầu cao chất lượng nội dung thông tin với khả năng đáp ứng cũn hạn chế của cỏc đài phát thanh

Tiếp nhận thông tin một cách liên tục, cập nhật đầy đủ có hệ thống, cũng là nhu cầu cao của công chúng. Người dân khi mở đài phát thanh không muốn lúc nào cũng chỉ thấy toàn tin tức hội nghị, hoặc những tin bài phản ánh kiểu báo cáo thành tích, những bài xa vời với cuộc sống của họ. Cái mà người nông dân cần là những thông tin về cách làm giàu, về giống lúa trồng mới có hiệu quả, mang lại lợi ích kinh tế cao. Cụ thể hơn nữa đó là những thông tin phổ biến về kiến thức nhà nông. Những hộ làm kinh tế giỏi thực sự chứ không phải là những bài ca ngợi thái quá cho doanh nghiệp nhằm mục đích quảng cáo là chính. Những thông tin này hệ thống phát thanh từ trung ương đến địa phương đang thiếu và yếu, nếu có chỉ chiếm một tỉ lệ thời lượng rất nhỏ.

4.1.4. Mâu  thuẫn giữa tính bức thiết, biến đổi nhanh của nhu cầu với tính thiếu cập nhật của chương trỡnh phỏt thanh

Nhu cầu thụng tin phỏt thanh của cụng chỳng luụn bức thiết và biến đổi nhanh trên thực tế thỡ cỏc chương trỡnh phỏt thanh cũn nhiều hạn chế về tớnh cập nhật. Đặc biệt là hệ thống phát thanh địa phương vẫn đang đi những bước chậm chạp. Ngoài một vài đài phát thanh đó cú những cố gắng trong cụng tỏc tuyờn truyền, nhiều đài phát thanh địa phương hiện nay hoạt động không hiệu quả, vai trũ mờ nhạt. Phỏt thanh địa phương rừ ràng đang bị “lép vế” so với truyền hỡnh địa phương. Thực tế cho thấy phát thanh hiện nay đang không đáp ứng nhu cầu của công chúng, nhất là công chúng nông thôn. Nhiều đài phát thanh địa phương chưa quan tâm đến chất lượng nội dung thông tin. Đưa thông tin nguội lạnh, thiếu cập nhật. Các đài địa phương thiếu những chương trỡnh mang tớnh tương tác, chương trỡnh trực tiếp cú tớnh sỏng tạo hoặc thiếu tỡm tũi trong cỏch thể hiện chương trỡnh. 

4.1.5. Mâu thuẫn giữa tính linh hoạt trong việc sử dụng các điều kiện tiếp nhận với sự thụ động của người dân nông thôn

Do điều kiện kinh tế chưa phát triển, đời sống dân cư nông thôn ở nước ta chưa được cải thiện, do vậy công chúng nông thôn, đặc biệt là những vùng xa đô thị, hiếm có điều kiện tiếp cận với mạng Internet, điện thoại di động, hay quạt tích điện...Phương tiện chủ yếu của công chúng nông thôn để nghe phát thanh là những chiếc radio trong các gia đỡnh hay hệ thống phỏt thanh cụng cộng của xó, huyện. Thờm vào đó là tâm lý ỷ lại, sự thụ động trong việc tiếp nhận thông tin của người dân nông thôn. Nếu có điều kiện tốt, có sẵn thỡ họ sẽ nghe phỏt thanh, khụng cú điều kiện tiếp nhận, phát thanh không đến từng nhà, họ sẽ không nghe hoặc lựa chọn phương tiện khác. Tâm lý chung là cụng chỳng nụng thụn khụng cú sự đầu tư, tỡm tũi, nỗ lực trong việc tỡm kiếm thụng tin để nâng cao chất lượng cuộc sống. Mặc dù họ luôn có những đũi hỏi về điều kiện thuận lợi khi tiếp nhận thụng tin.

4.2. Những giải pháp chủ yếu tạo lập các điều kiện để phát triển và đáp ứng nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay

4.2.1. Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho người dân

Phỏt triển sản xuất, nâng cao mức sống cho người dân chính là điều kiện khách quan để phát triển và đáp ứng nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn. Khi người dân được thoả món về nhu cầu thụng tin thời điểm hiện tại sẽ kích thích nảy sinh những nhu cầu mới cao hơn, họ tiếp tục tiếp nhận thông tin để thoả món nhu cầu và đây chính là điều kiện để quay lại phát triển hơn nữa sản xuất...giúp cho đời sống người dân ngày càng tốt hơn.

Đất nước ta có 70% dân số sống ở các vùng nông thôn và có nền sản xuất nông nghiệp là cơ bản thỡ phỏt triển kinh tế cho người dân nông thôn đóng vai trũ vụ cựng quan trọng. Sự đóng góp này đối với sự phát triển chung của đất nước rất to lớn. Nó sẽ giúp cho nhà nước có điều kiện quay trở lại đầu tư cho sự nghiệp báo chí trong đó cú loại hỡnh bỏo phỏt thanh. Hệ thống bỏo phỏt thanh cú cơ hội phát triển toàn diện, chất lượng chương trỡnh được nâng cao. Người dân có điều kiện thỏa món nhu cầu cao về chất lượng nội dung thông tin. 

4.2.2.Tăng cường sự lónh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự quan tâm quản lý, đầu tư của các cấp chính quyền

Dân chủ hoá thông tin ngày càng cần được đẩy mạnh ở nông thôn Việt Nam nói chung và khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng. Thông tin ngày càng được mở rộng mọi lĩnh vực trong đời sống xó hội, thụng tin khụng chỉ đến với người dân thành thị mà cần phải đến được với những người dân nông thôn. Cần mở rộng hơn nữa các diễn đàn trên báo chí để người dân có thể nói lên tiếng nói của mỡnh. Thụng tin ngày càng đến với nhiều người dân nông thôn, càng kích thích nhu cầu  hiểu biết của họ và kích thích người dân có nhu cầu trỡnh bày tõm tư, nguyện vọng của mỡnh trước công luận.

4.2.3. Nõng cao đời sống văn hoá và trỡnh độ học vấn cho người dân nụng thụn

Phát triển đời sống văn hóa tinh thần chính là điều kiện để phát triển nhu cầu, khi nhu cầu thông tin của công chúng được thỏa món thỡ nảy sinh những nhu cầu mới cao hơn. Nõng cao nhu cầu thụng tin phỏt thanh của cụng chỳng nụng thụn và thỏa món cỏc nhu cầu chớnh là nhiệm vụ của bỏo phỏt thanh.

Khi người dân có đời sống văn hóa phong phú, các thiết chế văn hóa mới phát huy được tác dụng, chức năng, họ thường tham gia vào các hoạt động của nhà văn hóa, thư viện, phũng truyền thống... sẽ tiếp nhận được nhiều thông tin khác nhau, từ đó sẽ nảy sinh nhu cầu thông tin mới cao hơn.

Trỡnh độ học vấn là yếu tố cơ bản và quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Nếu người dân có một nền tảng tri thức tốt, được đào tạo nghề, trỡnh độ học vấn của người dân được nâng cao, họ sẽ nảy sinh nhu cầu hiểu biết về mọi lĩnh vực khác nhau trong đời sống xó hội. Đây chính là điều kiện tốt để kích thích nhu cầu thông tin của người dân. Khi nhu cầu thông tin nâng lên tầm cao hơn buộc những người làm báo phát thanh phải luôn thay đổi nội dung chất lượng thông tin để đáp ứng nhu cầu cao  của người dân.

4.2.4. Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động phát thanh

Đối với hoạt động của các cơ quan phát thanh. Trong quỏ trỡnh thực hiện cụng tỏc thụng tin cho cụng chỳng nụng thụn, cần tăng cường sự chỉ đạo của lónh đạo. Điều này sẽ giỳp nội dung tuyên truyền không đi sai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Mối quan hệ giữa người lónh đạo và tổng biên tập với biên tập viên và phóng viên là vô cùng quan trọng. Khi một tác phẩm, chương trỡnh phỏt thanh được phát sóng, chắc chắn sẽ có phản hồi từ người nghe, thính giả có thể là người dân bỡnh thường, những nhà quản lý và ngay cả người lónh đạo cơ quan báo phát thanh. Sự đánh giá, phản hồi của người nghe là vô cùng quan trọng. Trong đó, sự đánh giá chính xác, khách quan của lónh đạo báo sẽ là cần thiết hơn cả. Bởi những sai sót được phát hiện kịp thời sẽ giúp cho biên tập viên, phóng viên luôn ý thức nõng cao trỡnh độ, trách nhiệm trong từng bài báo, từng chương trỡnh.  

Đối với người làm báo phát thanh

Việc thực hiện trỏch nhiệm xó hội của phúng viờn thể hiện bằng tỏc phẩm qua hoạt động báo chí. Thông qua từng tác phẩm cụ thể, chất lượng chương trỡnh chớnh là thước đo giá trị về những đóng góp của phát thanh trong việc thoả món nhu cầu thụng tin, nõng cao đời sống văn hoá tinh thần và vật chất cho bà con nông dân. Phóng viên phải có trách nhiệm phát hiện, biểu dương điển hỡnh nhõn tố mới và đấu tranh ngăn chặn xoá bỏ cái cũ, lạc hậu, và cả những tiêu cực xó hội gúp phần làm cho đời sống nhân dân được nâng lên. Trách nhiệm của phúng viờn, biờn tập viờn cũn thể hiện ở cả trỡnh độ, nhận thức trong việc xử lý thông tin.  

Nâng cao chất lượng nội dung thông tin trong các chương trỡnh phỏt thanh

Để phát thanh đến với đông đảo người nghe ở vùng nông thôn, điều quan trọng là phải xem xét giá trị thông tin của mỗi chương trỡnh dành cho cụng chỳng nụng thụn đạt ở mức độ nào. Đưa thông tin đó cũ, phạm vi ảnh hưởng hẹp, vấn đề đặt ra nhàm chán hoặc thính giả đó biết sẽ tạo nờn sự lạnh nhạt đối với đài. Dù đài có tăng chương trỡnh, thời lượng mở thêm kênh nhưng không thể chỉ xác định thông tin cho vài đối tượng ở nông thôn mà phải mở rộng cấp độ thông tin đến nhiều tầng lớp ở nông thôn.

Để phát thanh thực sự hấp dẫn và có thể giữ chân công chúng đũi hỏi những người làm phát thanh địa phương phải biết tiếp thu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất các chương trỡnh, cỏc cơ quan thông tin đại chúng cần tăng cường thêm thời lượng, số lượng tin, bài, chuyên mục về nông nghiệp, nông thôn.                        

4.2.5. Kớch thớch sự phỏt triển nhu cầu thụng tin phỏt thanh ở cụng chỳng

Cải thiện điều kiện tiếp nhận thông tin. Hiện nay điều kiện cơ sở vật chất dành cho phát thanh trên địa bàn nông thôn cũn hạn chế từ điều kiện tối thiểu. Vỡ vậy, việc tiếp nhận thụng tin phỏt thanh cũn eo hẹp là điều không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó, nhận thức của đội ngũ cán bộ phát thanh cơ sở về vai trũ tầm quan trọng của bỏo chớ núi chung và bỏo phỏt thanh núi riờng trong việc nõng cao nhận thức, mở rộng hiểu biết, nõng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với công chúng nông thôn chưa thoả đáng. Hệ thống  truyền thanh ở địa bàn nông thôn cũn hạn chế về trỡnh độ nghiệp vụ của cán bộ, chất lượng kỹ thuật, âm thanh, thời điểm, thời lượng phát thanh.

Đài phát thanh cần đổi mới thường xuyên về phương thức hoạt động theo hướng đa dạng hoá, nâng cao chất lượng và hịêu quả các chương trỡnh, đổi mới và tăng cường hỡnh thức thụng tin đa chiều, mở rộng hơn nữa các hoạt động giao lưu, trao đổi cộng tác viên, mở rộng sự phối hợp và liên kết với các cơ quan báo chí khác.

Nõng cao đời sống vật chất, nâng cao mức trang bị phương tiện phát thanh và chất lượng máy thu thanh cho người dân. Đối với khu vực dân nghèo có thể phát miễn phí đài phát thanh. Cỏc huyện, xó nờn trang bị hệ thống truyền thanh khụng dõy để người dân thuận lợi trong việc tiếp nhận thụng tin. Chất lượng phát sóng từ Trung ương, tỉnh đến địa phương tốt.

 Xây dựng “Câu lạc bộ bạn nghe đài” rộng khắp. Đây là kênh thông tin phản hồi có chất lượng và đáng tin cậy. Đặc biệt, xây dựng “câu lạc bộ bạn nghe đài” từ các hội nụng dõn xó, phường  đến cả các thôn xóm. Hàng tháng cơ quan phát thanh yêu cầu các câu lạc bộ gửi thư góp ý, kiến nghị về Đài về các nội dung trên tất cả các lĩnh vực cuộc sống, trong đó phải chỉ rừ hạn chế, thiếu sút của Đài, những vấn đề bức xúc, khúc mắc, những vấn đề liên quan đến phóng viên hay những chỗ chưa hiểu, kiến nghị...

Các đài phát thanh, đặc biệt là đài tỉnh, thành phố trong khu vực nên lập một ban nghiên cứu thính giả.

Nờn hỡnh thành cỏc tổ chức, bộ phận điều tra, đánh giá công chúng ở các đài phát thanh, hoạt động một cách khoa học, tránh làm đối phó, chiếu lệ. Mở cửa, tạo điều kiện cho cỏc tổ chức bờn ngoài muốn tỡm hiểu cụng chỳng của đài phát thanh. Đồng thời, đối với các kết quả đạt được cần có cơ chế đánh giá, khảo sát, chính sách vận dụng, và sử dụng trờn thực tế.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu công chúng là một công tác hết sức quan trọng và cần thiết đối với bất cứ một đài phát thanh nào trong quá trình hoạt động. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn, một thách thức lớn để cho các đài phát thanh và các chương trình của đài tồn tại và phát triển. Để phát thanh đạt hiệu quả cao, người làm báo phát thanh luôn luôn phải nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng của mình một cách nghiêm túc. “Việc đáp ứng nhu cầu về thông tin của công chúng không có ý nghĩa là chỉ đáp ứng những nhu cầu sẵn có mà còn bao gồm cả việc dần dần hình thành những nhu cầu mới” [64;29]

Từ thực tiễn nghiờn cứu, khảo sỏt và phõn tớch, cụng trỡnh này đó đạt được những kết quả chính sau:

Trước hết, luận án đó khỏi quỏt và làm rừ về mặt lý luận nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn. Mối quan hệ giữa nhu cầu và điều kiện trong việc tiếp nhận thông tin của công chúng. Công chúng vừa là đối tượng phản ánh của phát thanh vừa là người đánh giá thẩm định cuối cùng tác phẩm phát thanh. Công chúng phát thanh không chỉ nghe đài thuần tuý mà còn là đội ngũ cộng tác viên, thông tin viên đông đảo. Công chúng là những cộng tác viên đầy sáng tạo. Nhiều thông tin có giá trị tức thời trên  báo chí nói chung và phỏt thanh nói riêng là của cộng tác viên, một bộ phận công chúng. (Chương 1)

Thông qua phương pháp nghiên cứu xã hội học, luận án tiến hành khảo sát nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn ĐBSH. Tác giả luận án tìm hiểu công chúng nông thôn ở 4 tỉnh ĐBSH là Hải Phòng, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Nam. Từ những kết quả thu được thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu, luận án đã chỉ ra những thông số ban đầu về nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn ĐBSH, về mức độ quan tâm khác nhau của công chúng về các dạng thông tin, nhu cầu của công chúng về các dạng chương trình. Từ đó đưa ra một số xu hướng mới trong nhu cầu tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng (Chương 2). Công chúng phát thanh ở mỗi nhóm xã hội, nhóm nghề nghiệp, mỗi độ tuổi, mỗi vùng miền có mặt bằng tri thức khác nhau. Cho nên xem xét tính chất, trình độ công chúng phát thanh phải theo từng nhóm nhỏ. Mỗi nhóm đều có đặc thù riêng.

Luận án chỉ rõ thực trạng về điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn ĐBSH hiện nay. Đó là điều kiện khách quan về môi trường xã hội, điều kiện về hệ thống phát thanh, điều kiện của các nhân để tiếp nhận thông tin. Đồng thời chỉ ra những điều kiện thuận lợi và không thuận lợi cho việc thỏa mãn nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn (Chương 3). Ngày nay, công chúng không chỉ nghe phát thanh mà họ tự lựa chọn các kênh thông tin khác để tiếp nhận. Vì vậy các cơ quan thông tấn báo chí nói chung và đài phát thanh phải đặc biệt quan tâm đến công chúng của mình. Công chúng báo chí và công chúng phát thanh từ vai trò là đối tượng tiếp nhận thụ động đã tiến lên vai trò chủ động, trực tiếp tham gia vào quá trình truyền thông. 

Tìm hiểu nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn ĐBSH là cơ sở phân tích các vấn đề cần giải quyết nhằm phát triển và thỏa mãn nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn.  Các vấn đề đó thể hiện tập trung ở 5 mâu thuẫn sau:

Một là, Mâu thuẫn giữa sự đũi hỏi cao về điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận thông tin với sự đầu tư thiếu đầy đủ về phương tiện truyền thông ở nông thôn.

Hai là, Mõu thuẫn giữa sự phát triển nhanh, mạnh của các PTTT đại chúng với sự hạn chế về điều kiện sống và khả năng tiếp cận phương tiện truyền thông của công chỳng nụng thụn. 

Ba là, Mâu thuẫn giữa nhu cầu cao chất lượng nội dung thông tin với khả năng đáp ứng cũn hạn chế của cỏc đài phát thanh.

Bốn là, Mâu thuẫn giữa tính bức thiết, biến đổi nhanh của nhu cầu với tính thiếu cập nhật của chương trỡnh phỏt thanh.

Năm là, Mâu thuẫn giữa tính linh hoạt trong việc sử dụng các điều kiện tiếp nhận với sự thụ động của người dân nông thôn

 Trên cơ sở phân tích 5 mâu thuẫn trên, luận án đề xuất 5 giải pháp tương ứng chủ yếu tạo lập các điều kiện để phát triển và đáp ứng nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay. Đó là: Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho người dân; Tăng cường sự lónh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự quan tâm quản lý, đầu tư của các cấp chính quyền; Nâng cao đời sống văn hóa và trỡnh độ học vấn cho người dân nông thôn; Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động phát thanh; Kích thích sự phát triển nhu cầu thông tin phát thanh ở công chúng. Đây là những giải pháp về chính trị, kinh tế, xó hội, giải phỏp về loại hỡnh bỏo phỏt thanh và giải phỏp về cụng chỳng. 

KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIấN CỨU TIẾP THEO

Công chúng nông thôn ĐBSH là nhóm đối tượng quan trọng đối với loại hỡnh bỏo phỏt thanh. Luận ỏn chỉ tiếp cận một bộ phận nhỏ, khụng thể đại diện cho tổng thể dân cư toàn khu vực ĐBSH. Những kết quả khảo sát và những nhận định, phân tích trong luận án chỉ có ý nghĩa tham khảo và gợi ý. Đây là vấn đề thiết thực đối với cơ quan báo phát thanh trong khu vực, nhằm nâng cao chất lượng chương trỡnh, tiến đến nâng cao chất lượng và hoạt động của hệ thống phát thanh địa phương. Điều này đóng vai trũ quan trọng trong việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ĐBSH. Tác giả mong muốn việc điều tra công chúng phát thanh được thực hiện theo chu kỳ khoảng 3 năm đến 5 năm một lần, với các hướng nghiên cứu tiếp theo là:

- Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng ở các Việt Nam (mở rộng khảo sát thêm ở các khu vực trung và Nam bộ).

-Tỡm hiểu nhu cầu thụng tin cụ thể của từng nhúm nhỏ cụng chúng. (Thông tin về kinh tế, khoa học, nông nghiệp... đối với từng nhóm công chúng nông thôn và thành thị).

-Trên cơ sở tỡm hiểu cụng chỳng nụng thụn tiến tới tỡm giải phỏp hiện thực húa cỏc điều kiện nhằm thỏa món nhu cầu thụng tin phỏt thanh của cụng chỳng nụng thụn.

 

THÔNG TIN TÓM TẮT VỀ NHỮNG KẾT LUẬN MỚI

CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Tên đề tài:  Nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay

Chuyên ngành: Báo chí học. Mã số: 62 32 01 01

Nghiên cứu sinh: Phạm Thị Thanh Tịnh

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Lương Khắc Hiếu – hướng dẫn 1

                                              TS. Nguyễn Trí Nhiệm – hướng dẫn 2

Cơ sở đào tạo: Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Những kết luận mới của luận án:

Tìm hiểu nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng nông thôn ĐBSH là cơ sở phân tích các vấn đề cần giải quyết nhằm phát triển và thỏa mãn nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn.  Các vấn đề đó thể hiện tập trung ở 5 mâu thuẫn sau:

Một là, Mâu thuẫn giữa sự đòi hỏi cao về điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận thông tin với sự đầu tư thiếu đầy đủ về phương tiện truyền thông ở nông thôn.

Hai là, Mâu thuẫn giữa sự phát triển nhanh, mạnh của các PTTT đại chúng với sự hạn chế về điều kiện sống và khả năng tiếp cận phương tiện truyền thông của công chúng nông thôn

Ba là, Mâu thuẫn giữa nhu cầu cao chất lượng nội dung thông tin với khả năng đáp ứng còn hạn chế của các đài phát thanh.

Bốn là, Mâu thuẫn giữa tính bức thiết, biến đổi nhanh của nhu cầu với tính thiếu cập nhật của chương trình phát thanh.

Năm là, Mâu thuẫn giữa tính linh hoạt trong việc sử dụng các điều kiện tiếp nhận với sự thụ động của người dân nông thôn

Trên cơ sở phân tích 5 mâu thuẫn trên, luận án đề xuất 5 giải pháp tương ứng chủ yếu tạo lập các điều kiện để phát triển và đáp ứng nhu cầu thông tin phát thanh của công chúng nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay. Đó là: Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho người dân; Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự quan tâm quản lý, đầu tư của các cấp chính quyền; Nâng cao đời sống văn hóa và trình độ học vấn cho người dân nông thôn; Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động phát thanh; Kích thích sự phát triển nhu cầu thông tin phát thanh ở công chúng. Đây là những giải pháp về chính trị, kinh tế, xã hội, giải pháp về loại hình báo phát thanh và giải pháp về công chúng. 

 

Người hướng dẫn 1                                Người hướng dẫn 2                Nghiên cứu sinh

 

 

PGS,TS Lương Khắc Hiếu                  TS. Nguyễn Trí Nhiệm                      Phạm Thị Thanh Tịnh


SUMMARY OF NEW CONCLUSIONS OF PHD THESIS

Title: Needs and conditions for receiving information broadcast by the Red River Delta farmers are now

Speciality: Journalism Studies. Classification: 62 32 01 01

Name of PhD Student: Pham Thi Thanh Tinh

Advisors: AP.Dr. Luong Khac Hieu

                 Dr. Nguyen Tri Nhiem

Institutional: Academy of Journalism and Communication

New Conclusions:

Understanding the needs and conditions for receiving information of the public radio and rural Red River is the basis of analyzing the problem to be solved in order to develop and meet the information needs of the public radio in rural areas. The problem is concentrated in five possible conflict follows:

One, the contradiction between the high demand conditions in receiving investment information with complete lack of media in rural areas.

Second, conflicts between the confines of the living conditions and access to media of public rural development fast, power of the mass media

Thirdly, the conflict between the need for quality information content to meet you also have the ability to limit the radio of the pile.

Fourth is conflict between the urgency, rapid changes in demand with the lack of updates to radio programs.

Fifth, the conflict between flexibility in the use of conditions with the passive reception of the rural population.     

Based on analysis of 5 conflicts, thesis proposed 5 solutions corresponding mainly to create conditions for development and meet the information needs of the public radio and the Red River Delta Rural present. That is: To develop production, improve living standards for people, increasing the leadership of the Party committees, management attention and investment of all levels of government; improve the living standards and cultural level education for rural people; renew and improve the quality of broadcasting activities; Stimulating the development information needs in public radio. This is the solution of political, economic, social and solutions about this kind of newspaper, radio and public solutions.

Adivisor 1                                           Adivisor 2                                              PhD Student

 

 

 

 AP.Dr. Luong Khac Hieu        Dr. Nguyen Tri Nhiem                                  Pham Thi Thanh Tinh

 

 

Học viện Báo chí & Tuyên truyền